Ô nhiễm rác thải nhựa và các vấn đề đặt ra với Việt Nam

Thời gian đọc: 5 phút

 

Thực hiện chính sách Đổi mới, Việt Nam đã vươn mình, đạt mức phát triển kinh tế  khá cáo, trung bình 6-8% trong nhiều năm.  Ngành nhựa là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16 – 18%/năm. Trong năm 2018, sản lượng sản xuất ngành nhựa tăng 7%, đạt 8,3 triệu tấn[1], trong đó sản xuất nhựa bao bì chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt 36%. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 2.000 doanh nghiệp nhựa, trong đó 450 doanh nghiệp sản xuất bao bì và túi ni lông khó phân hủy.

 

Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm nhựa ở Việt Nam cũng rất lớn. Mức tiêu thụ nhựa bình quân đầu người gia tăng nhanh chóng ở mức 10,6% mỗi năm từ năm 1990 tới năm 2017, tăng từ 3,8 kg/người/năm lên 63 kg/người/năm 2017, lên  81 kg/người/năm năm 2018, trong đó 58 kg/người/năm trở thành chất thải và 23 kg/người/năm tồn lại trong lượng dự trữ.[2]. Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) đã thống kê, năm 2018, Việt Nam đã thải ra hơn 1,8 triệu tấn rác thải nhựa không được xử lý, chiếm gần 6% lượng rác nhựa trên thế giới. Sông Mê Công chảy qua Việt Nam ra biển đã được xếp vào top 10 con sông ô nhiễm do rác nhựa. Tính riêng lượng rác thải nhựa ra biển, Việt Nam đứng thứ 4 thế giới trong năm 2018, ở mức khoảng 0,50 triệu tấn.

Lý do Việt Nam là một trong những quốc gia có tình trạng ô nhiễm RTN lớn:

 

  1. Do sự tiện lợi và thói quen

Do sự tiện lợi của đồ nhựa và thói quen sử dụng một lần, các bao bì đóng gói được phát miễn phí tại các cửa hàng nên lượng phát thải nhựa lớn. Rác nhựa từ các ngành thủy sản, y tế và săm lốp chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong lượng rác nhựa rò rỉ tuyệt đối nhưng lại có tỷ lệ rò rỉ rất cao.

  1. Tình trạng quản lý RTN thấp

Hiện Việt Nam chưa có số liệu thống kê cụ thể về tỷ lệ thu gom chất thải nhựa mà chỉ có thống kê về tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH), trong đó có chất thải nhựa và túi ni lông. Việc phân loại, thu gom chất thải nhựa có thể tái chế thường là mang tính chất tự phát ở quy mô hộ gia đình, người thu gom rác và nhặt phế liệu tự do. Chất thải nhựa phát sinh từ các hộ gia đình, chợ, khu vực công cộng chủ yếu được xử lý cùng với chất thải rắn sinh hoạt đã được thu gom. Song tỷ lệ thu gom rất thấp, mới chỉ bắt đầu làm được ở thành phố. Hơn một nửa lượng rác thải nhựa phát sinh ở Việt Nam chưa được thu gom (3,6 Mt/ năm) do nằm ngoài các trung tâm công nghiệp, thành phố, tỷ lệ xả rác cao và do đốt rác lộ thiên.

 

  1. Quản lý RTN

Việc quản lý các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh và bãi rác tự phát kém nên lượng rác thải rò rỉ và  chưa được quản lý hợp lý cao. Tỷ lệ chất thải bao bì, túi ni long trung bình tại bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) chỉ chiếm khoảng từ 6 – 8%.[3]

 

  1. Vấn đề tái chế

Năng lực tái chế của Việt Nam hạn chế trong khi ngăn chặn việc nhập khẩu rác thải kém hiệu quả vì nhiều doanh nghiệp vẫn coi đó là một nguồn sinh nhai cho các cơ sở tái chế. Từ năm 2013 đến 2017, ngành nhựa Việt Nam nhập khẩu nhựa tái chế ở mức trung bình 91.400 tấn/ năm, đưa Việt Nam đứng thứ tư trong số 10 nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) về nhập khẩu nhựa tái chế.[4] Theo báo cáo của Bộ TNMT 2020, Việt Nam đã tái chế 15% tổng lượng rác thải nhựa, nhưng hầu hết là rác thải nhập khẩu, chỉ 5% tương ứng trong số này là rác thải phát sinh trong nước được tái chế.

Việc quản lý kém RTN trước hết là tình trạnh buông lỏng quản lý của các cơ quan trung ương và địa phương trong thời gian dài cộng thêm năng lực và cơ sở hạ tầng hạn chế.

Tính phổ biến và sự đa dạng trong ứng dụng của nhựa đòi hỏi cách tiếp cận tổng hợp để giải quyết ô nhiễm. Song trong nhiều năm, Việt Nam chưa thực sự sẵn sàng triển khai quản lý tổng hợp chưa chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải. Hệ thống luật pháp Việt Nam quản lý rác thải nhựa giống như bất kỳ loại chất thải rắn nào khác, với thẩm quyền bị phân tán cho nhiều cơ quan quản lý khác nhau.

Tuy nhiên, vấn đề lớn nhất với Việt Nam chính là nhận thức của đa số người dân trong việc thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý các chất thải rắn sinh hoạt, đặc biệt là chất thải nhựa và túi ni lông, vẫn còn nhiều hạn chế. Thói quen sử dụng túi ni lông khó phân hủy của người dân vẫn còn phổ biến do chưa nhận thức được những tác hại của việc thải chất thải nhựa đối với môi trường và hệ sinh thái; chưa nhận thức được lợi ích kinh tế của việc phân loại, thu gom và tái chế chất thải nhựa nên tỷ lệ thu gom chất thải nhựa so với lượng phát sinh còn thấp. Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh dịch vụ, sản phẩm có phát sinh chất thải nói chung và chất thải nhựa khó phân hủy vào môi trường chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm trong giảm phát thải và thực hiện tái sử dụng cũng như đẩy mạnh hiệu quả của ngành công nghiệp tái chế.[5]

Các nghiên cứu về RTN của Việt Nam cũng còn rất khiêm tốn, trong khi nghiên cứu của UNDP và IUCN khá cụ thể, cho thấy bức tranh tương phản về tình hình quản lý RTN ở Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tại Đông Nam Á, Việt Nam và Thái Lan đều là hai nước có vấn đề đáng quan ngại về RTN. Trung bình, Việt Nam và Thái Lan tạo ra lượng rò rỉ RTN ra đại dương 10 lần lớn hơn Kenya và 5 lần hơn Nam Phi, hai nước có lượng rò rỉ RTN lớn nhất ở châu Phi. Việt Nam và Thái Lan cũng ghi nhận lượng rò rỉ trung bình cao hơn 4 kg/thu nhập/năm gấp 3 lần mức trung bình của thế giới.[6] Tại Việt Nam, hơn một nửa số RTN không được thu gom trong khi Thái Lan chỉ là ¼. Điều này cho thấy Việt Nam đang đánh giá thấp việc thu gom, phân loại và xử lý hợp vệ sinh RTN trong khi năng lực thiêu hủy chất thải rắn của Việt Nam là cao hơn trung bình của khu vực 32 kg/capita/năm. Hệ thống sông ngòi chằng chịt của Việt Nam cũng tạo cơ hội cho RTN rò rỉ nhiều ra biển. Trong khi khả năng tái chế chất thải nội địa của Việt Nam là 17% thì thực sự chỉ có 6 % chất thải rắn sinh hoạt được tái chế. Các cơ sở tái chế tập trung cho chất thải nhập khẩu, trong khi chất thải nội địa được tái chế ở các cơ sở địa phương, làng xã nơi ít có điều kiện vệ sinh môi trường.

Các vật dụng nhựa gây ô nhiễm số lượng lớn là túi, bao bì ni long và chai nhựa. Chai nhựa được đánh giá chiếm vị trí thứ hai trong đóng gói hàng hóa tại các chợ, siêu thị và 70% số chai nhựa có thể thu hồi, tái sử dụng.[7] Đứng thứ ba là các sản phẩm dệt may. Các sản phẩm lốp oto cũng là nguồn RTN lớn. Tuy nhiên ở Việt Nam, mức độ sử dụng cao su tự nhiên cao hơn cao su tổng hợp nên các sản phẩm lốp oto chưa gây nên ảnh hưởng môi trường lớn. Song tình hình có thể thay đổi khi Việt Nam sử dụng nhiều hơn lốp cao su tổng hợp theo xu thế chung của thế giới.

Tại Việt Nam các số liệu thông tin về RTN rải rác, khó thu thập và không đồng bộ cho công tác nghiên cứu, dự báo. Trong khi các số liệu về rò rỉ RTN có khá nhiều thì số liệu về tái chế, tái sử dụng còn rất ít và thường phải bổ xung từ những nguồn không chính thức.

Việt Nam đã tham gia các Hội nghị quan trọng của Liên hợp quốc liên quan đến môi trường, đặc biệt là Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường con người năm 1972 (UNHCE) và Hội nghị Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED) năm 1992, Hội nghị Johannerbug 2012, Rio+20. Việt Nam cũng là thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, Công ước về Đa dạng sinh học và Công ước Khung về biến đổi khí hậu năm 1992, Nghị định thư về ngăn ngừa ô nhiễm biển do hoạt động đổ chất thải và các vật chất khác năm 1996, Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra năm 1973 và Nghị định thư của Công ước năm 1978 (MARPOL 73/78), Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (POP) năm 2001, Hiệp định Hợp tác Phát triển Bền vững Lưu vực sông Mê Công (Hiệp định Mê Công năm 1995). Đây là khung pháp lý quốc tế quan trọng để Việt Nam hợp tác với các nước và ban hành, điều chỉnh các luật quốc gia của mình phù hợp với  luật quốc tế trong lĩnh vực ngăn ngừa và kiểm soát RTN.

Luật Việt Nam về phòng chống ô nhiễm, trong đó có RTN đã  được phát triển mạnh mẽ trong những năm đầu thế kỷ 21. Từ 2010 trở về trước, Việt Nam không thể hiện sự quan tâm đặc biệt đối với RTN trừ một số quy định đối với túi ni lông từ năm 2010. Khung pháp lý không hướng đến cách tiếp cận theo vòng đời đối với nhựa mà chủ yếu tập trung vào sản xuất, nhập khẩu phế liệu cho sản xuất và quản lý chất thải như Quyết định số 50/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ

về danh mục các sản phẩm thải bỏ phải thu hồi. Bao bì không thuộc danh mục mặc dù chúng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng chất thải rắn và lượng rò rỉ. Luật và các quy định uỷ quyền cho hiệp hội các nhà sản xuất tổ chức các hoạt động thu hồi, nhưng không bắt buộc mục tiêu thu gom, tái chế, và/hoặc xử lý.[8] Các văn bản khác quy định chủ yếu về quản lý chất thải và phế liệu, bao gồm RTN như Nghị định số 38/2015-NĐ/CP của Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu, Thông tư số 36/2015-TT/BTNMT của Bộ TN&MT về quản lý chất thải nguy hại, Quyết định số 1066 /QĐ-BVHTTD ngày 28 tháng 3 năm 2018 của Bộ Văn hóa thể thao và du lịch về các bộ tiêu chí về bảo vệ môi trường đối với các cơ sở du lịch và dịch vụ tại các khu điểm du lịch.

 

Kế hoạch Hành động Quốc gia về Quản lý Rác thải Nhựa Đại dương năm 2019 là một bước tiến lớn của Việt Nam trong chính sách quản lý RTN mặc dù chỉ tập trung vào các biện pháp quản lý cuối nguồn thông qua tự nguyện không sử dụng các sản phẩm nhựa dùng một lần trong các khu du lịch, làm sạch bãi biển và tăng cường quản lý chất thải nhựa trong các hoạt động trên biển và khu vực ven biển.    

Luật BVMT 2020 đưa ra yêu cầu thu hồi sản phẩm thải bỏ (Điều 54) và áp dụng phí thải bỏ trả trước (ADF) (Điều 55). Nhựa không nằm trong danh sách các sản phẩm thải bỏ phải thu hồi mà  việc phân loại rác phụ thuộc vào sự tự nguyện của người tiêu dùng sau khi sử dụng như một phần yêu cầu của việc quản lý rác thải sinh hoạt tại nguồn.

Việt Nam tham gia Hội nghị Bộ trưởng về ô nhiễm rác thải nhựa và rác thải biển tại Geneva,  1-2, tháng 9 năm 2021 và đang đăng cai Hội nghị quốc tế về Kinh tế đại dương bền vững và thích ứng với Biến đổi khí hậu vào tháng 12/2020, trong đó quản lý RTN là một chủ đề nóng.

Như vậy, Việt Nam đã dần nhận thức và có chuyển biển trong xây dựng chính sách và pháp luật về RTN. Tuy nhiên để đưa chính sách vào thực tiễn, Chính phủ, các viện nghiên cứu, các doanh nghiệp, các Hiệp đoàn và người lao động, người tiêu thụ phải làm việc cùng nhau, hợp tác chặt chẽ đề ra và thực thi chiến lược và kế hoạch quản lý RTN hiệu quả, giảm thiểu RTN từ bao bì, dệt may, lốp xe, vật lệu xây dựng và các vật liệu khác. Nó đòi hỏi các giải pháp cho cả vòng đòi của nhựa từ thiết kế, sản xuất, sử dụng gia dụng tới tái chế, tái sử dụng và tiêu hủy. Trong chuỗi các giải pháp này, việc nâng cao nhận thức của người dân,, đặc biệt của giới trẻ, trong đó có sinh viên là đặc biệt quan trọng.

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

Tiếng Việt

  1. Bộ TNMT, Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2019 – Chuyên đề Quản lý chất thải rắn sinh hoạt
  2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2018. Bộ tiêu chí bảo vệ môi trường đối với các cơ sở du lịch và dịch vụ tại các khu, điểm du lịch.
  3. Dương Thị Phương Anh, 2016. Báo cáo tổng hợp Đề tài “Nghiên cứu cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế về kiểm soát chất thải nhựa trên biển”, Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường.
  4. Dư Văn Toán, Nguyễn Thùy Vân, Mai Kiên Định, Phạm Văn Hiếu, Nguy cơ ô nhiễm rác thải nhựa tại các khu du lịch biển – đảo Việt Nam, Đề xuất giải pháp giảm thiểu phát thải, 2020.
  5. IUCN-EA-QUANTIS (2020). Hướng dẫn quốc gia về Xác định điểm nóng ô nhiễm nhựa và Xây dựng hành động. Báo cáo quốc gia Việt Nam.
  6. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  7. Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 16/01/2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
  8. Trần Khánh Đức, Giáo trình Giáo dục Đại học – Việt Nam và Thế giới, Đại học quốc gia Hà Nội 2012
  9. Viện Nghiên cứu Phát triển du lịch, 2017. Báo cáo công tác bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch.
  10. Viện Nghiên cứu biển và hải đảo, 2019. Báo cáo Dự án “Xây dựng dự thảo kế hoạch hành động quốc gia về quản lý rác thải nhựa đại dương đến năm 2030.

 

 

Tiếng Anh

  1. Aliani S, Molcard A (2003) Hitch-Hiking on floating marine debris: macrobenthic species in the Western Mediterranean Sea. Hydrobiologia 503(1): 59 – 67.
  2. Carson HS, Colbert SL, Kaylor MJ, McDermid KJ (2011) Small plastic debris changes water movement and heat transfer through beach sediments. Mar Pollut Bull 62(8):1708 – 1713.
  3. Cauwenberghe L.V. and C. R. Janssen (2014) Microplastics in bivalves cultured for human consumption. Environmental Pollution, 193. 65 – 70.
  4. Greenpeace (2017) https://www.greenpeace.org/international/story/11871/the-ocean-plastic-crisis
  5. Fendall LS, Sewell MA (2009) Contributing to marine pollution by washing your face: microplastics in facial cleansers. Mar Pollut Bull 58(8):1225 – 1228.
  6. Jambeck J.R., R. Geyer, C. Wilcox, T. R. Siegler, M. Perryman, A. Andrady, R. Narayan, K. L. Law (2015) Plastic waste inputs from land into the ocean. Science 347, 768 – 771.
  7. Laist DW (1997) Impacts of marine debris: entanglement of marine life in marine debris including a comprehensive list of species with entanglement and ingestion records. In: Coe JM, Rogers DB (eds) Marine debris: sources, impacts, and solutions. Springer Series on Environmental Management, pp 99 – 139.
  8. Geyer, R., Jambeck, J. R. & Law, K. L. Production, use, and fate of all plastics ever made Supplementary Information. Sci. Adv. 3, 19–24 (2017).
  9. Phuong, N. H. (2020). The legal, policy and institutional frameworks governing marine plastics in Viet Nam. Bonn, Germany: IUCN Environmental Law Centre. 18pp.
  10. UNEP, Our planet is drowning in plastic pollution—it’s time for change!, https://www.unep.org/interactive/beat-plastic-pollution.
  11. UNGA, Play it out against plasctic pollution, https://www.un.org/pga/73/playitout.
  12. WWF, No Plastic in Nature, Asessing plastic ingestion from Nature to People, 2019, t.6

 

 

 

[1] Hiệp hội Nhựa Việt Nam, 2019

[2] IUCN-EA-QUANTIS (2020). Hướng dẫn quốc gia về Xác định điểm nóng ô nhiễm nhựa và Xây dựng hành động. Báo cáo quốc gia Việt Nam.

[3] Bộ TNMT, Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2019 – Chuyên đề Quản lý chất thải rắn sinh hoạt, http://dwrm.gov.vn/uploads/news/2020_11/bao-cao-hien-trang-moi-truong-2019.pdf, tr.47-48

[4] Vietnam Industry Research and Consultancy (2018), Vietnam Plastics Comprehensive Report Q2/2018.  http://vpas.vn/gioi-thieu/tong-quan-nganh.html

[5] Ibid

[6] Jambeck J.R., R. Geyer, C. Wilcox, T. R. Siegler, M. Perryman, A. Andrady, R. Narayan, K. L. Law (2015) Plastic waste inputs from land into the ocean. Science 347, 768 – 771.

[7] WWF, No Plastic in Nature, Asessing plastic ingestion from Nature to People, 2019

[8] Phuong, N. H. (2020). The legal, policy and institutional frameworks governing marine plastics in Viet Nam. Bonn, Germany: IUCN Environmental Law Centre. 18pp.

Востребованные автоматы с суперпризом: суперпризы в виртуальном-заведении пинап казино

Аппараты, представленные в интернет-клубе, заинтересовывают клиентов не только разнообразием тем и простыми правилами, но и крупными выплатами. В ряде автоматов доступны установленные и растущие главные призы. В казино pin up казино официальный сайт популярные автоматы с главным призом вынесены в отдельный секцию, чтобы игроки не тратили время на их обнаружение.

Подыскивать слоты с джекпотами можно с помощью мониторов джекпотов. Так называются сайты, где в режиме реального времени демонстрируется размер наград, представленных в разных автоматах. После определения аппарата его предлагается испытать в тестовом варианте. Для этого даже не требуется открывать профиль. Пробный режим помогает детально исследовать разные аппараты и определить, какие из них лучше.

О популярных аппаратах с крупными выплатами можно получить информацию из обзоров и мнений. Рецензии игр рекомендуется искать на YouTube. Также будет информативным изучение трансляций на Twitch, относящихся игре в суперприз-аппараты. Что касается комментариев о аппаратах, клиенты публикуют их в социальных платформах и на разных специализированных порталах.